ĐẦU TƯ CÔNG VIỆT NAM
Đỗ Văn Tính
Đầu tư công luôn là một trong những trụ cột chính của chính sách phát triển kinh tế tại Việt Nam. Giai đoạn 2021 - 2023, nền kinh tế Việt Nam chịu nhiều áp lực từ đại dịch COVID-19, xung đột địa chính trị toàn cầu và các yếu tốbất ổn kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, nhờ các biện pháp điều hành linh hoạt và chiến lược ưu tiên đầu tư công, Việt Namđã duy trì được đà tăng trưởng và nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng.
Đầu tư công đóng vai trò trung tâm trong việc kích thích tăng trưởng kinh tế và đảm bảo sự phát triển bền vững.Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong ba năm 2021 - 2023, tổng vốn đầu tư công ước đạt gần 2.500 nghìntỷ đồng, chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng chi ngân sách quốc gia. Đặc biệt, đầu tư công góp phần xây dựng và nângcấp cơ sở hạ tầng giao thông, năng lượng và y tế, tạo động lực cho sự phát triển vùng miền, giảm chênh lệch kinh tếgiữa các khu vực, thúc đẩy các ngành công nghiệp và dịch vụ, qua đó tạo thêm việc làm và nâng cao đời sống ngườidân. Một ví dụ điển hình là các dự án giao thông trọng điểm như cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2, cao tốc Mỹ Thuận - Cần Thơ và các công trình hạ tầng khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Những dự án này không chỉ cải thiện kết nối liên vùng mà còn mở ra cơ hội phát triển kinh tế, thu hút đầu tư tư nhân và nước ngoài.
Dưới tác động của đại dịch COVID-19, Việt Nam đã đưa ra nhiều chính sách hỗ trợ nhằm đảm bảo duy trì nguồn vốn đầu tư công và đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án. Một trong những điểm nhấn là Nghị quyết số43/2022/QH15 về gói hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, với tổng quy mô lên đến 347 nghìn tỷ đồng. Trong đó:
-
Bổ sung vốn cho các dự án hạ tầng giao thông chiến lược như sân bay Long Thành, cảng Lạch Huyện và tuyến đường sắt đô thị tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.
-
Hỗ trợ nâng cấp hệ thống y tế và giáo dục, với các dự án xây dựng bệnh viện tuyến tỉnh và mở rộng trường học ở vùng sâu, vùng xa.
-
Thúc đẩy đầu tư công nghệ năng lượng sạch, bao gồm điện gió, điện mặt trời và các dự án giảm phát thải khí nhà kính.
Trong ba năm qua, vốn đầu tư công chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực then chốt:
-
Giao thông: Chiếm gần 50% tổng vốn đầu tư công, với các dự án như cao tốc La Sơn - Túy Loan tại miền Trung hay cầu Mỹ Thuận 2 tại miền Nam.
-
Y tế: Xây dựng và nâng cấp hơn 300 cơ sở y tế, bao gồm bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình và Trung tâm Y tế vùng Đồng bằng sông Hồng.
-
Giáo dục: Đầu tư vào cơ sở vật chất cho các trường học tại vùng khó khăn, điển hình là dự án xây dựng trường phổ thông dân tộc nội trú tại Tây Bắc.
-
Năng lượng: Hỗ trợ các dự án điện gió và điện mặt trời, đặc biệt tại Ninh Thuận, Bình Thuận và Tây Nguyên.
Dù đạt được nhiều thành tựu, hệ thống đầu tư công tại Việt Nam vẫn đối mặt với một số vấn đề:
-
Tiến độ giải ngân vốn chậm: Trong năm 2023, mặc dù đã có nhiều nỗ lực cải thiện, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tưcông vẫn chỉ đạt khoảng 85% kế hoạch, thấp hơn mục tiêu đề ra. Điều này dẫn đến tình trạng lãng phí nguồn lực vàảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến độ của nhiều dự án quan trọng. Ví dụ, dự án cao tốc La Sơn – Túy Loan tại ĐàNẵng – một phần của tuyến cao tốc Bắc – Nam, đã được lên kế hoạch hoàn thành từ năm 2022. Tuy nhiên, do khó khăn trong giải phóng mặt bằng, đặc biệt tại khu vực giao với các địa phương lân cận, cùng với các thủ tục hànhchính rườm rà, dự án tiếp tục bị kéo dài. Đến cuối năm 2023, chỉ khoảng 92% khối lượng công việc của dự án đượchoàn thành, gây áp lực lớn lên ngân sách cũng như làm giảm hiệu quả khai thác. Việc chậm tiến độ của các dự ánnhư cao tốc La Sơn – Túy Loan không chỉ làm tăng chi phí đầu tư, mà còn cản trở khả năng kết nối kinh tế vùng miền. Điều này nhấn mạnh sự cần thiết phải cải cách mạnh mẽ các quy trình hành chính và nâng cao năng lực quản lý dự án để đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư công. Phân bổ nguồn vốn không đồng đều: Các vùng kinh tế trọng điểm như Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng được ưu tiên đầu tư nhiều hơn so với Tây Bắc và Tây Nguyên, làm gia tăng khoảng cách phát triển giữa các vùng miền.
-
Năng lực quản lý dự án yếu kém: Một số địa phương thiếu đội ngũ quản lý dự án chuyên nghiệp, dẫn đến tình trạng đội vốn và kéo dài thời gian thi công.
Bảng 1- Số liệu vốn đầu tư công và vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2021 – 2023
ĐVT: tỷ đồng
Khu vực |
2021 |
2022 |
2023 |
Kinh tế nhà nước |
719.293 |
832.062 |
953.596 |
Kinh tế ngoài nhà nước |
1.719.354 |
1.868.642 |
1.919.670 |
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài |
458.081 |
521.975 |
550.204 |
|
2.896.728 |
3.222.679 |
3.423.470 |
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam)
Mặc dù gặp nhiều khó khăn, đầu tư công vẫn là động lực chính trong việc phục hồi kinh tế sau đại dịch. Theo thống kê, tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2021 - 2023 đạt trung bình 6,4%/năm, trong đó đầu tư công đóng góp khoảng 25% vào tổng tăng trưởng. Các dự án trọng điểm, như cao tốc Bắc - Nam và sân bay Long Thành, được kỳvọng sẽ tiếp tục tạo ra hiệu ứng lan tỏa lớn cho các ngành kinh tế. Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả đầu tư công, Việt Nam cần tập trung giải quyết các hạn chế trong giải ngân vốn, quản lý dự án và phân bổ nguồn lực. Đây sẽ là nền tảng để thúc đẩy sự phát triển bền vững trong giai đoạn tiếp theo.
Bảng 2 - Danh mục các dự án quan trọng quốc gia thời kỳ 2021 – 2030
Tên dự án |
Tổng mức đầu tư (tỷ đồng) |
1. Đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông: |
100.000 |
2. Đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Tây: |
Chưa có số liệu cụ thể |
3. Đường bộ cao tốc Đông - Tây: |
Dự kiến 40.000 |
4. Cảng hàng không quốc tế Long Thành: |
18.000 |
5. Đường vành đai vùng Thủ đô Hà Nội, vành đai Thành phố Hồ Chí Minh: |
|
Vành đai 3 TP.HCM: Khoảng 75.000 tỷ đồng. |
75.000 |
Vành đai 4 Hà Nội: Khoảng 90.000 tỷ đồng. |
90.000 |
6. Đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam: |
58.700 |
7. Đường sắt đô thị Hà Nội và TP.HCM: |
20.000 |
8. Các tuyến đường sắt kết nối với cảng biển cửa ngõ quốc tế: |
30.000- 40.000 |
Qua danh mục trên, ta thấy đầu tư công trọng điểm của Việt Nam trong giai đoạn 2021
- 2030 đều tập trung vào hệ thống giao thông, và có một số lý do quan trọng giải thích cho sự ưu tiên này:
Thúc đẩy phát triển kinh tế và kết nối vùng miền: Hệ thống giao thông đóng vai trò quan trọng trong việc kết nốicác vùng miền, thúc đẩy hoạt động thương mại và giảm bớt sự chênh lệch giữa các khu vực. Đầu tư vào giao thônggiúp tạo ra mạng lưới kết nối mạnh mẽ giữa các thành phố lớn và vùng nông thôn, tạo ra các tuyến đường huyếtmạch cho việc vận chuyển hàng hóa và hành khách. Điều này đặc biệt quan trọng đối với một quốc gia như ViệtNam, nơi mà kết nối giữa các khu vực có thể tạo ra sự thay đổi lớn về kinh tế và xã hội Giảm thiểu ùn tắc và nâng cao năng lực vận chuyển Một trong những yếu tố lớn nhất ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế là tình trạng ùn tắc giao thông tại các thành phố lớn, đặc biệt là Hà Nội và TP.HCM. Đầu tư vào các tuyến cao tốc, đường sắt đô thị vàcảng biển sẽ giúp giảm bớt áp lực cho hệ thống giao thông hiện tại, từ đó nâng cao năng suất lao động và giảm thiểu thời gian lưu thông .
Khuyến khích đầu tư và tạo đòn bẩy cho các ngành công nghiệp khác: Hệ thống giao thông hiện đại không chỉ phụcvụ nhu cầu đi lại của người dân mà còn có tác động mạnh mẽ đến các ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệpchế biến, chế tạo và dịch vụ logistics. Việc đầu tư vào hạ tầng giao thông giúp tạo ra một môi trường thuận lợi đểthu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia .
Tác động đến nền kinh tế dài hạn: Các dự án giao thông lớn như cao tốc Bắc Nam, sân bay Long Thành và các tuyếnđường sắt Bắc Nam có tiềm năng tạo ra những thay đổi mạnh mẽ cho nền kinh tế trong dài hạn. Những dự án này sẽtạo ra hàng triệu công việc trong quá trình xây dựng và vận hành, đồng thời góp phần giảm thiểu chi phí logistics,thúc đẩy xuất khẩu, du lịch, và các ngành công nghiệp liên quan .
Quyết tâm về hát triển bền vững: Với chiến lược dài hạn, Chính phủ Việt Nam quyết tâm xây dựng một hệ thốnghạ tầng giao thông hiện đại, có khả năng đáp ứng nhu cầu vận chuyển ngày càng tăng của nền kinh tế. Đầu tư vàogiao thông là một phần không thể thiếu trong kế hoạch phát triển bền vững, giúp tạo ra một nền tảng vững chắc cho sự phát triển trong tương lai.
458,081.00 |
521,975.00 |
|
|
||||||
|
550,204.00 |
|
|
||||||
|
1,868,642.00 |
|
1,919,670.00 |
|
|||||
|
1,719,354.00 |
|
|
||||||
719,293.00 |
832,062.00 |
953,596.00 |
|
Biểu đồ 1 - Số liệu và tỉ trọng vốn đầu tư tại Việt Nam theo giá hiện hành 2021 - 2023
Tổng vốn đầu tư đã tăng trưởng ổn định qua các năm, từ 2.896.728 tỷ đồng (2021) lên
3.423.470 tỷ đồng (2023), tương ứng với mức tăng trưởng bình quân khoảng 5,74% mỗi năm.
Các thành phần kinh tế đều ghi nhận sự gia tăng vốn đầu tư, nhưng tốc độ tăng trưởng có sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực:
Kinh tế nhà nước: Vốn đầu tư của kinh tế nhà nước tăng từ 719.293 tỷ đồng (2021) lên 953.596 tỷ đồng (2023),tương ứng mức tăng trưởng 32,6% trong giai đoạn này, với tốc độ tăng trung bình hàng năm khoảng 10%. Kinh tếnhà nước tiếp tục đóng vai trò chủ đạo trong các dự án trọng điểm quốc gia như cơ sở hạ tầng giao thông, nănglượng và dịch vụ công. Vốn đầu tư công của Nhà nước tăng trưởng mạnh do Chính phủ thúc đẩy các dự án đầu tư công nhằm kích thích kinh tế sau đại dịch COVID-19.
Kinh tế ngoài nhà nước: Vốn đầu tư của khu vực này tăng từ 1.719.354 tỷ đồng (2021) lên 1.919.670 tỷ đồng (2023), chỉ tăng 11,65% trong 3 năm, với tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 3,7%/năm. Đây là khu vực cótỷ trọng vốn đầu tư lớn nhất, chiếm hơn 56% tổng vốn đầu tư qua các năm. Vốn đầu tư khu vực này tăng trưởngchậm hơn so với kỳ vọng, nguyên nhân có thể do khó khăn trong tiếp cận vốn vay và sức ép cạnh tranh từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI): Vốn đầu tư FDI tăng từ 458.081 tỷ đồng (2021) lên 550.204 tỷ đồng(2023), tăng 20,14% trong 3 năm, với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm khoảng 6,3%. Đây là khu vực có tốcđộ tăng trưởng nhanh thứ hai sau kinh tế nhà nước. Các ngành thu hút FDI nhiều nhất gồm: sản xuất công nghiệp,năng lượng tái tạo và dịch vụ logistics. Sự gia tăng vốn FDI phản ánh sức hút của môi trường đầu tư Việt Nam trong bối cảnh dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu.
Thành tựu đạt được
Đầu tư công đã có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển của kinh tế xã hội giai đoạn 2021 - 2023, nhất là sauđại dịch Covid 19. Cơ sở hạ tầng, đặc biệt trong lĩnh vực giao thông và năng lượng, được cải thiện đáng kể.
Trong giai đoạn 2021 - 2023, đầu tư công đã tạo ra những bước tiến quan trọng trong việc cải thiện cơ sở hạ tầngquốc gia. Các dự án giao thông lớn như cao tốc Bắc - Nam giai đoạn 1, với tổng mức đầu tư gần 120.000 tỷ đồng, đãhoàn thành nhiều đoạn quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho vận chuyển hàng hóa và đi lại của người dân. Tính đến cuối năm 2023, khoảng 80% tuyến cao tốc này đã được đưa vào sử dụng, giảm đáng kể thời gian di chuyển giữa các tỉnh miền Bắc, Trung và Nam.
Trong lĩnh vực năng lượng, các dự án nhà máy điện mặt trời tại Ninh Thuận và Bình Thuận đã được triển khai mạnh mẽ, giúp tăng công suất điện tái tạo lên 17 GW vào năm 2023 (tăng 35% so với năm 2021). Những cải thiện này không chỉ đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng mà còn góp phần chuyển đổi sang năng lượng sạch, giảm phát thải khí nhà kính.
Đầu tư công cũng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế vùng miền, giảm chênh lệch giữa các địa phương. Đầu tư công đã tập trung nhiều vào các khu vực khó khăn như Tây Bắc, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long. Ví dụ, dự án xây dựng cầu Rạch Miễu 2 nối tỉnh Tiền Giang và Bến Tre, với tổng vốn đầu tư 5.175 tỷ đồng, đãgiúp cải thiện đáng kể khả năng kết nối trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nơi thường xuyên đối mặt với khó khăn về cơ sở hạ tầng.
Nhờ sự đầu tư này, GDP các vùng có mức tăng trưởng đáng kể: Tây Bắc tăng 5,8%/năm trong giai đoạn 2021 - 2023, cao hơn mức trung bình cả nước (khoảng 5,2%). Điều này cho thấy đầu tư công không chỉ thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế mà còn giảm chênh lệch phát triển giữa các khu vực.
Đầu tư công cũng thu hút vốn đầu tư tư nhân vào các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ. Việc cải thiện cơ sở hạ tầngđã tạo tiền đề cho việc thu hút vốn đầu tư tư nhân vào các khu công nghiệp và khu kinh tế. Ví dụ, tỉnh Quảng Ninhđã thu hút gần 2 tỷ USD vốn tư nhân vào khu kinh tế Vân Đồn và khu công nghiệp Đông Mai trong giai đoạn này.Nhờ có đầu tư công hỗ trợ xây dựng hạ tầng giao thông và logistics, khu vực này đã trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Tồn tại
Tiến độ phân bổ, giải ngân vốn chậm, gây lãng phí nguồn lực và làm giảm hiệu quả đầu tư:
Mặc dù Chính phủ đã đề ra nhiều biện pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, nhưng tiến độ vẫn còn chậm. Tínhđến cuối năm 2023, chỉ khoảng 82.47% kế hoạch vốn được giải ngân, trong đó một số dự án lớn như đường cao tốc Mỹ Thuận - Cần Thơ và tuyến metro Bến Thành - Suối Tiên bị chậm tiến độ từ 1 - 2 năm. Sự chậm trễ này khôngchỉ gây lãng phí nguồn lực mà còn làm giảm hiệu quả kinh tế của các dự án. Ví dụ, chậm bàn giao mặt bằng cho dự án cao tốc Bắc - Nam đoạn Diễn Châu - Bãi Vọt đã khiến chi phí đội thêm khoảng 15% so với dự kiến ban đầu,tạo áp lực lớn lên ngân sách nhà nước.
Vẫn còn 1,89% số vốn Thủ tướng Chính phủ giao chưa được phân bổ. Theo báo cáo từ Bộ Tài chính, tổng số vốn đầu tư công năm 2023 đã phân bổ là 789.972,3 tỷ đồng, đạt trên 111% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ đã giao(711.559,8 tỷ đồng); trong đó, các địa phương giao tăng so với số kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao là 91.838 tỷ đồng. Nếu không tính số kế hoạch vốn cân đối ngân sách địa phương các địa phương giao tăng là 91.838 tỷ đồng, thì tổng số vốn đã phân bổ là 698.134,5 tỷ đồng, đạt 98,11% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ đã giao.
Phân bổ nguồn vốn không đồng đều giữa các vùng miền: Một số khu vực như Đồng bằng sông Cửu Long, dù đóng vai trò quan trọng trong an ninh lương thực và xuất khẩu, lại nhận được tỷ lệ đầu tư thấp hơn so với khu vựckhác. Trong giai đoạn 2021 - 2023, vùng này chỉ chiếm khoảng 8% tổng vốn đầu tư công, so với 30% ở vùng Đông Nam Bộ. Điều này dẫn đến tình trạng chênh lệch trong phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng miền.
Năng lực quản lý dự án tại một số địa phương chưa đáp ứng yêu cầu: Các dự án tại địa phương thường gặp khó khăn trong việc lập kế hoạch và triển khai. Ví dụ, dự án nâng cấp hệ thống đường giao thông tại tỉnh Sơn La(2022) đã bị đình trệ do thiếu năng lực chuyên môn trong giám sát và thực hiện. Điều này không chỉ gây lãng phí nguồn lực mà còn làm mất uy tín trong việc triển khai các dự án công.
Nguyên nhân
Thủ tục hành chính phức tạp, mất nhiều thời gian để phê duyệt dự án: Quy trình phê duyệt dự án đầu tư côngtại Việt Nam vẫn rất phức tạp, với nhiều cấp phê duyệt và yêu cầu pháp lý. Chẳng hạn, dự án cầu Nhơn Trạch thuộctuyến đường Vành đai 3 TP.HCM đã mất hơn 2 năm để hoàn thiện các thủ tục pháp lý, làm chậm tiến độ khởi công.
Thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước: Nhiều dự án bị chậm trễ do sự thiếu phối hợp giữa các bộngành và địa phương. Ví dụ, việc bàn giao đất cho dự án sân bay Long Thành (2021 - 2023) bị kéo dài do không thống nhất được giữa Bộ Giao thông Vận tải và chính quyền tỉnh Đồng Nai.
Khả năng thực hiện và giám sát dự án hạn chế tại một số địa phương Một số địa phương, đặc biệt là các tỉnhmiền núi, còn thiếu nhân lực và kinh nghiệm trong việc quản lý các dự án lớn. Ví dụ, dự án xây dựng hệ thống thủy lợi tại Hà Giang đã bị đội vốn và kéo dài thời gian thi công do các nhà thầu không đáp ứng đủ tiêu chuẩn kỹ thuật.
Những ưu điểm và hạn chế trên cho thấy đầu tư công tại Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần khắc phục. Để cải thiện hiệu quả, cần có các giải pháp đồng bộ từ đơn giản hóa thủ tụchành chính, tăng cường phối hợp liên ngành đến nâng cao năng lực quản lý dự án tại địa phương.
Giải pháp ngắn hạn
Đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm thời gian phê duyệt và giải ngân vốn: Một trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng chậm tiến độ đầu tư công là sự phức tạp trong thủ tục hành chính. Việc phê duyệt một dự án thường mất nhiều thời gian do các quy định chồng chéo giữa các cấp quản lý. Để khắc phục, cần rút ngắn quy trình phê duyệt thông qua các cơ chế đặc thù. Ví dụ, dự án cao tốc Bắc - Nam đã áp dụng cơ chế ưu tiên rút gọn trong phê duyệt thiết kế kỹ thuật, giúp khởi công các đoạn như Mai Sơn - Quốc lộ 45 và Diễn Châu - Bãi Vọt sớm hơn dự kiến, giảm đáng kể thời gian thực hiện.
Tăng cường kiểm tra, giám sát tiến độ thực hiện các dự án lớn: Giám sát chặt chẽ là giải pháp quan trọng để đảmbảo các dự án được triển khai đúng tiến độ và chất lượng. Các đội ngũ kiểm tra độc lập cần được thành lập, vớinhiệm vụ giám sát thường xuyên và báo cáo kịp thời về các sai phạm. Trong dự án cao tốc La Sơn - Túy Loan, cácđợt kiểm tra định kỳ đã giúp phát hiện sớm những vấn đề về chất lượng vật liệu và khắc phục ngay, tránh ảnh hưởng đến toàn bộ công trình.
Ưu tiên hoàn thiện các dự án đang triển khai, đặc biệt là những dự án có tác động lớn đến nền kinh tế: Các dựán dở dang không chỉ gây lãng phí nguồn lực mà còn làm chậm tiến trình phát triển kinh tế – xã hội. Hoàn thiện cácdự án này là một trong những biện pháp ngắn hạn hiệu quả nhất. Ví dụ, tuyến metro Bến Thành - Suối Tiên tạiTP.HCM sau nhiều năm chậm tiến độ, nếu được hoàn thành trong năm 2024, sẽ giúp cải thiện đáng kể giao thông đôthị, giảm ùn tắc và ô nhiễm môi trường.
Giải pháp dài hạn
Hoàn thiện khung pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư công: Cần sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật liên quan đến đầu tư công để giải quyết triệt để các vướng mắc trong thủ tục phê duyệt và giải ngân vốn. Luật Đầu tư công sửa đổi có thể áp dụng cơ chế phân cấp mạnh mẽ hơn, cho phép các địa phương tự chủ trong quản lý các dự án quy mô vừa và nhỏ. Ví dụ, việc ban hành cơ chế đặc thù cho các dự án trọng điểm quốc gia như sân bay Long Thành đã giúp đẩy nhanh tiến độ thực hiện giai đoạn 1 của dự án.
Nâng cao năng lực quản lý dự án tại các địa phương thông qua đào tạo nhân lực: Một số địa phương hiện tại vẫn thiếu cán bộ chuyên môn có kinh nghiệm trong quản lý và giám sát các dự án lớn. Do đó, cần tổ chức các khóa đàotạo thường xuyên về quản lý dự án, quy hoạch đầu tư và sử dụng công nghệ số. Chẳng hạn, tại tỉnh Sơn La, chươngtrình đào tạo về quản lý đầu tư công đã giúp nâng cao năng lực điều hành các dự án thủy lợi và giao thông, mang lại hiệu quả rõ rệt trong thời gian gần đây.
Mở rộng hợp tác quốc tế, huy động vốn ODA và FDI để giảm áp lực lên ngân sách nhà nước: Sự tham gia của vốn ODA và FDI không chỉ giúp giảm gánh nặng tài chính mà còn mang lại kinh nghiệm quốc tế trong quản lý vàthực hiện dự án. Ví dụ, dự án đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông được thực hiện bằng nguồn vốn ODA từ TrungQuốc, dù có những hạn chế nhưng vẫn là minh chứng cho vai trò của hợp tác quốc tế trong đầu tư công.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
-
Tổng cục Thống kê (GSO) và Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI): Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội các năm 2021, 2022, 2023.
-
Bộ Tài chính: Báo cáo về các chỉ số kinh tế và xu hướng trong các năm gần đây